Những thức ăn cần tránh khi bị vẩy nến.


Khi bị vảy nến cần tránh những thực phẩm gì



Bên cạnh những loại thực phẩm mà các bác sĩ khuyến khích người bệnh nên tích cực sử dụng thì các bác sĩ cũng khuyến cáo nên hạn chế những loại thực phẩm như: cam, quýt, đường, những thực phẩm chế biến sẵn, hại tiêu, rượu bia là thức uống có thể khiến cho bệnh vảy nến càng trầm trọng do đó để chữa vảy nến người bệnh hạn chế đến mức tối đa đồ uống này. Nên hạn chế những thực phẩm sau:

- Thịt, sữa, trứng: vì chứa nhiều arachidon là chất xúc tác cho phản ứng viêm tấy không chỉ ngoài da, mà trong khớp, trên thần kinh ngoại biên…

- Rượu bia: vì độ cồn là đòn bẩy cho phản ứng thoái biến các loại chất đạm có tác dụng sinh dị ứng. Hơn nữa, tiến trình giải độc rượu của gan bị trì trệ rất nhiều ở người có cơ địa vảy nến. Bệnh nhân khi mắc bệnh vâảy nến cũng nên giữ cho mình tâm lý thoải mái, tránh lo âu, vì có thể khiến cho bệnh thêm trầm trọng.


Những lưu ý khi chăm da và vệ sinh cá nhân cho bệnh nhân vảy nến



- Chăm sóc da nên tắm mỗi ngày để loại bỏ vẩy bám trên da. Tránh nước quá nóng, xà bông quá mạnh làm da thêm khô ngứa. Lau da nhẹ nhàng tránh gây tổn thương thêm.Không kỳ cọ, chà xát, không cố gắng làm bong vảy.

- Ngay sau khi tắm, da còn hơi nước, thoa các loại kem làm ẩm da. Mùa lạnh khô, cần thoa kem làm ẩm da nhiều lần trong ngày Tránh gãi chỗ ngứa, giữ da ấm.

 - Vệ sinh răng, miệng, tai mũi họng tốt, nếu có bệnh phải được khám-điều trị theo chuyên khoa. Không sử dụng một số thuốc: chống viêm không steroid, chống sốt rét, chẹn beta và kháng sinh betalactam. Vận động thể thao là cần thiết nhưng phải phù hợp với tuổi, bệnh mắc kèm khác. Cần giữa hẹn tái khám để bác sĩ theo dõi tiến triển bệnh và có những thay đổi trong trị liệu phù hợp. 
Thu Trang

Người bệnh vẩy nến nên ăn những thực phẩm gì

Bệnh vẩy nến gây khó chịu cho người bệnh

Trong các trường hợp bệnh nhân khám da liễu thì số người mắc bệnh vẩy nến chiếm tới 10%. Bệnh có thể gặp ở nhiều độ tuổi khác nhau.Biểu hiện của bệnh là những tổn thương da dạng dát đỏ, trên có phủ những lớp vẩy trắng, khi bong ra trông giống như sáp nến. Dù là bệnh do cơ chế tự miễn, có yếu tố di truyền và không lây từ người này sang người khác khi tiếp xúc, nhưng vì biểu hiện của bệnh là ngoài da nên có thể khiến cho người bệnh mất tự tin, ngại giao tiếp. Vì vậy, việc điều trị ngoài mục đích giảm vẩy, giảm khó chịu cho người bệnh, thì còn giúp cho người bệnh có thể tự tin hơn trong giao tiếp.



Đậu nành rất tốt cho người bệnh vẩy nến

Bệnh nhân vẩy nến cần bổ sung những thức ăn gì

Ngoài điều trị bằng thuốc, thì việc bổ sung các chất dinh dưỡng và chế độ ăn phù hợp cũng giúp hạn chế tái phát và giảm triệu chứng bệnh.
Khi mắc bệnh vẩy nến, bệnh nhân nên tích cực sử dụng những nhóm thực phẩm sau:
- Axít béo- Omega3: đây là nhóm thực phẩm được tìm thấy nhiều trong các loại thực phẩm như: cá hồi, cá thu, cá mòi, dầu nành, dầu mè… đây là những loại thực phẩm có thể làm hạn chế đi sự ảnh hưởng của các loại thuốc kháng sinh và không làm gia tăng tình trạng của bệnh vẩy nến.
- Chất chống oxi hóa: đây là nhóm thực phẩm được tìm thấy nhiều ở những thực phẩm như: nho, bưởi, các loại đậu nhất là đậu nành, ngũ cốc, nho khô, quả hạch… nếu bệnh nhân tích cực sử dụng những loại thực phẩm này bệnh nhân có thể hoàn toàn khống chế được bệnh vẩy nến. 
Betacaroten: Cà rốt là loại thực phẩm chứa nhiều tiền chất betacaroten, ngoài ra bệnh nhân cũng có thể tìm được nhóm dưỡng chất này ở cà chua, quả gấc, khoai lang đỏ, các loại rau xanh, xoài chín… bệnh vẩy nến là sự hình thành các tế bào da chết trên bề mặt da, betacaroten giàu vitamin A là một chất cần thiết cho một làn da khỏe mạnh.
- Folate và Kẽm: nếu chúng ta muốn có một làn da mạnh khỏe, săn chắc thì ngoài việc bổ sung tiền chất betacaroten những bệnh nhân mắc bệnh vẩy nến nên tích cực sử dụng những loại thực phẩm như: ngũ cốc, đậu Hà Lan, lúa mì, súp lơ, giá đỗ… là những thực phẩm có chứa nhiều folate và kẽm đê tăng cường dưỡng chất cho da.
Trên đây là những nhóm thực phẩm tốt cho bệnh nhân có bệnh vẩy nến. Người bệnh nên chú ý bổ sung những thực phẩm này trong khẩu phần ăn hàng ngày, góp phần giảm triệu chứng, ngăn ngừa tái phát bệnh vẩy nến.
Thu Trang

Ăn gì tốt cho người vẩy nến

Bệnh vẩy nến gây nhiều phiền toái cho người bệnh

Vướng bệnh nào cũng khổ nhưng nếu so sánh một cách tương đối thì vảy nến là bệnh ngoài da đứng đầu về mức độ gây khó chịu cho bệnh nhân, không chỉ vì ngứa ngáy liên hồi mà vì hình ảnh mất vệ sinh của lớp vảy trắng rơi lả tả khắp nơi.
Bệnh sở dĩ có tên là vảy nến vì da ở đầu, đùi, cánh tay, khuỷu tay, nhượng chân, lưng... trở nên sần sùi và đóng vảy khô từng mảng. Khổ hơn nữa là bệnh thường xuất hiện ở người trẻ, tuổi từ 15 đến 25, là lứa tuổi đang cần làm dáng. Cho nên, không lạ gì khi tỉ lệ trầm cảm rất cao ở người bị vảy nến do hậu quả của nhiều ngày lo buồn, chán nản. Đã thế, nguyên nhân của bệnh lại đa dạng khó lường. Hiện nay cũng chưa có cách chữa khỏi bệnh vẩy nến, bệnh cứ tái phát đi, tái phát lại, gây khó chịu cho người bệnh. Việc điều trị chỉ nhằm mục đích giảm mức độ bệnh, giảm các đợt tái phát.

Người bệnh vẩy nến nên ăn gì

Có nhiều phương pháp điều trị bệnh vẩy nến nhưng nhiều thầy thuốc hiện đang có khuynh hướng trở về với “dinh dưỡng liệu pháp” nhằm dùng hoạt chất dễ dung nạp trong thực phẩm thay vì tác chất dễ gây hại trong dược phẩm. Các nhà nghiên cứu về bệnh vảy nến vì thế đã khuyên bệnh nhân nên bổ sung các thực phẩm:
Cá biển giàu Omega 3 rất tốt cho người bệnh vẩy nến
 - Cá biển loại có nhiều 3-Omega như cá hồi, cá thu, cá sa ba. Kết quả nghiên cứu cho thấy với 150 g cá mỗi ngày trong nhiều ngày liên tục, có thể ức chế các chất sinh viêm trong bệnh vảy nến.
- Rau quả có nhiều beta-caroten như trái bơ, cà rốt và nhất là xoài để bảo vệ cấu trúc mong manh của da.
- Mè đen, vì chúng vừa chứa dầu béo có cấu trúc tương tự 3-Omega vừa cung cấp sinh tố E cần thiết cho tiến trình tổng hợp lớp sợi liên kết dưới da.
- Bông cải xanh để bổ sung acid folic cần thiết cho phản ứng tổng hợp kháng thể. Chất này rất dễ thiếu trong người bị bệnh vảy nến.
- Nghêu, sò nhằm cung ứng kẽm, khoáng tố tối cần thiết cho sức đề kháng. Người bị vảy nến không nên có định kiến với hải sản. Nếu dị ứng tất nhiên phải tránh nhưng đa số người bệnh vẩy nến lại không gặp trục trặc với tôm, cá.
Mặt khác, người bệnh vảy nến nên nói không với các món sau đây khi bệnh đang phát tán: Thịt, sữa, trứng (vì chứa nhiều chất xúc tác cho phản ứng viêm tấy không chỉ ngoài da mà trong khớp, trên thần kinh ngoại biên); rượu, bia (vì độ cồn là đòn bẩy cho phản ứng phóng thích các loại chất đạm sinh dị ứng.
Hơn nữa, khả năng giải độc rượu của gan suy giảm rất nhiều ở người bị vảy nến. Với cùng một lượng rượu nhưng độ cồn trong máu của người bệnh vảy nến bao giờ cũng cao tối thiểu gấp đôi nếu so với người không bệnh).

Điều trị vẩy nến bằng sản phẩm thảo dược


Vẩy nến là bệnh tự miễn do rối loạn hệ thống miễn dịch mà biểu hiện đặc hiệu ở cơ quan thượng bì, dẫn đến những triệu chứng ở bên ngoài da. Bệnh gặp ở mọi giới, mọi lứa tuổi, nam thường mắc nhiều hơn nữ. Bệnh chiếm từ 1-4% dân số thế giới.

Ở Việt Nam ước tính có khoảng 2,5 triệu người đang phải sống với căn bệnh này (chiếm khoảng 3% dân số). Những năm gần đây, số người mắc bệnh vẩy nến ngày một gia tăng. Bệnh phát từng đợt, thường xuyên tăng giảm theo mùa.

Biểu hiện của bệnh vẩy nến

Biểu hiện đặc trưng của bệnh vẩy nến là các mảng bám trên da. Đó là các mảng màu hồng, bên trên là những lớp tế bào da chết, khi gãi hoặc cạo thì bong ra những mảng màu trắng, vụn như sáp nến. Bệnh vẩy nến không nguy hiểm đến tính mạng nhưng ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm, sinh lý và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Những người mắc bệnh này thường có cảm xúc bối rối, xấu hổ và thường là che giấu làn da mắc bệnh của mình để tránh dị nghị của mọi người xung quanh. Do bệnh vẩy nến còn bị nhầm lẫn sang các bệnh truyền nhiễm khác như bệnh phong, giang mai, thậm chí cả HIV/AIDS nên nhiều bệnh nhân vẩy nến có thể bị trầm cảm, thất vọng làm cho quá trình điều trị càng thêm khó khăn.
Ảnh minh họa

Điều trị vẩy nến với thảo dược thiên nhiên



Việc điều trị vẩy nến hiện nay vẫn chưa có phương pháp đặc hiệu nào. Thông thường bệnh nhân được các bác sĩ kê cho uống thuốc làm ức chế miễn dịch và các thuốc bôi ngoài da. Các thuốc ức chế miễn dịch như methotrexate, cyclosporin...tỏ ra hiệu quả đối với bệnh vẩy nến, nhưng thường làm cho bệnh nhân mệt mỏi, khó chịu, ăn ngủ kém, đồng thời có khả năng làm suy giảm chứng năng gan, thận. Ngoài ra các thuốc trên còn có nguy cơ làm cho bệnh bị tái phát nặng hơn. Các thuốc bôi như: acid salicylic, kẽm...có tác dụng làm mềm da, bong vảy, bớt ngứa, nhưng chủ yếu chỉ làm giảm được triệu chứng của bệnh. Vì vậy mục tiêu điều trị hiện nay là phương pháp an toàn, hiệu quả, không độc hại khi chữa vẩy nến lâu dài.

Khi mắc vẩy nến điều quan trọng là người bệnh không nên bi quan, cần có chế độ sinh hoạt, ăn uống điều độ. Tránh ăn nhiều chất béo, tránh dùng rượu, bia, thuốc lá, cà phê, tránh chấn thương trầy xước, giữ tinh thần thoải mái, không thức khuya... Vì điều trị vẩy nến phải sử dụng nhiều thuốc độc hại nên gần đây người ta đã chuyển sang dùng các loại thuốc đông y vừa uống, vừa tắm làm bong da chết. Bài thuốc mà nhân dân ta hay dùng là kinh giới, rau má, bồ công anh, ké đầu ngựa, trinh nữ, xích đồng, thổ phục linh, vỏ gạo, hạ khô thảo, kim ngân, khổ sâm, xác ve sầu, đơn đỏ mỗi thứ 10-12g sắc uống, bã đun để tắm hoặc ngâm chân tay cho bong da chết. Thuốc dùng từ 1-3 tháng thì bệnh lui. Một sản phẩm khác sử dụng tiện lợi hơn là Kim Miễn Khang có L-carnitine fumarate, thổ phục linh, hoàng bá, nhàu, nhũ hương, bạch thược, sói rừng...có tác dụng chống viêm, điều hòa miễn dịch, giúp phục hồi và làm cân bằng hệ thuống miễn dịch của cơ thể, ức chế rất đặc hiệu và chỉ tác động với các tế bào miễn dịch bất thường, giúp bệnh khỏi và khó tái phát. Uống Kim miễn khang ngày 4-5 viên x 2 lần/ngày và liên tục từ 3-6 tháng mà không có tác dụng phụ.


Anh Khang


 

Lời khuyên cho bệnh nhân vẩy nến trong mùa hè

Thời tiết ấm áp thường giúp cải thiện được tình trạng bệnh vẩy nến. Ánh sáng mặt trời giúp làm giảm các mảng da vẩy nến đồng thời độ ẩm giúp cải thiện da khô. Tuy nhiên, mùa xuân và mùa hè cũng có thể làm bạn lo lắng về quá nhiều da “trần”. Sử dụng những lời khuyên này để giúp kiểm soát tình trạng bệnh vẩy nến của bạn được tốt.

Tiếp xúc với ánh sáng mặt trời

Ánh sáng mặt trời là lý do hàng đầu giúp cải thiện triệu chứng bệnh vẩy nến trong suốt mùa hè. Kiểm soát "liều" của ánh sáng mặt trời có lợi ích tương tự như liệu pháp ánh sáng. Hay sử dụng ánh sáng mặt trời một cách đúng đắn:
  • Tắm nắng trong khoảng năm phút mỗi ngày và dần dần tăng thời gian lên đến 15 phút.Xoa thuốc chống nắng trên tất cả các bộ phận của cơ thể của bạn ngoại trừ các mảng da vẩy nến của bạn.
  • Bắt cháy nắng có thể làm trầm trọng thêm tình trạng vẩy nến, vì vậy không bao giờ để quá 15 phút.
  • Nếu bạn đang đi trong ánh mặt trời dài hơn 15 phút, kem chống nắng các mảng da vẩy nến của bạn. Chọn các nhãn hiệu được thiết kế cho làn da nhạy cảm. Chúng ít có khả năng kích thích bệnh vẩy nến của bạn.

Đi bơi 

Bơi lội, đặc biệt là trong nước muối, tróc ra khỏi da chết và cải thiện sự xuất hiện của bệnh vẩy nến. Tuy nhiên, cả hai nước muối và nước được khử trùng bằng clo có thể để lại làn da khô. Sau khi bơi, bạn hãy rửa sạch da và bôi trên một loại kem dưỡng ẩm nhẹ nhàng.
Bơi lội tốt cho người bệnh vẩy nến

Tránh khô da và đổ mồ hôi

Nhiệt và mồ hôi có thể làm cho bệnh vẩy nến của bạn trở nên tồi tệ hơn, đặc biệt là trên mặt và da đầu của bạn. Điều hoà nhiệt độ có thể giúp bạn giảm đổ mồ hôi, nhưng nó cũng có xu hướng khô da. Nếu bạn dành nhiều thời gian trong điều hòa không khí, dưỡng ẩm một lần hoặc hai lần một ngày với kem nặng hoặc thuốc mỡ.

Ngăn chặn côn trùng cắn

Muỗi và các côn trùng cắn khác có thể làm nặng thêm bệnh vẩy nến. Vì vậy, ngoài việc tránh côn trùng cắn. Phòng ngừa tốt nhất là mặc áo dài với quần dài, và ở trong nhà lúc chạng vạng tối, khi côn trùng hoạt động mạnh nhất. hoặc bạn có thể sử dụng sản phẩm phòng ngừa muổi cắn hoặc các kem bôi. Cái này, bạn nên tham khảo ý kiến bác sỹ Da Liễu

Hãy loại bỏ căng thẳng

Lo âu làm nặng hơn các triệu chứng bệnh vẩy nến. Hãy tận dụng các hoạt động có thể làm giảm căng thẳng. Đi nghỉ một kỳ nghỉ và rời khỏi công việc và áp lực của nó phía sau. Ở nhà, làm những việc giúp bạn thư giãn như đi bộ hoặc làm việc trong vườn. Cả bạn và bệnh vẩy nến của bạn sẽ có một mùa hè tốt.
Ngoài ra bạn có thể cân nhắc sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc thảo dược giúp hỗ trợ điều trị vẩy nến và phòng ngừa tái phát. Ngày này, với khoa học công nghệ phát triển, các cây thuốc quý đang dần được bào chế thành dạng viên đơn giản dễ sử dụng đặc biệt đối với những bệnh mạn tính kéo dài đòi hỏi thời gian sử dụng thuốc lâu dài như bệnh vẩy nến nói riêng và bệnh tự miễn nói chung. Ở Việt Nam hiện nay, đã có sản phẩm Kim miễn khang được sản xuất theo công thức bào chế và dây chuyền sản xuất của sản phẩm Fumacel- một sản phẩm được sử dụng tại Mỹ có hiệu quả trong hỗ trợ điều trị, cải thiện triệu chứng, phòng ngừa tái phát bệnh vẩy nến nói riêng và bệnh tự miễn nói chung, đây là sản phẩm có thành phần hoàn toàn từ thảo dược, giúp tăng cường năng lượng tế bào từ đó giúp tế bào khỏe mạnh và nhận diện chính xác những vật lạ xâm nhập vào cơ thể nhờ tác dụng của L- carnitin, đồng thời Kim miễn khang còn có tác dụng giúp giải độc cơ thể, giúp cơ thể chống lại những tác dụng phụ của các thuốc ức chế miễn dịch hay các thuốc tây, điều biến miễn dịch hiệu quả và có tác dụng chống viêm, chống dị ứng, chống ngứa, cải thiện triệu chứng của vẩy nến thông qua các tác dụng của sói rừng, nhũ hương, hoàng bá, thổ phục linh, nhàu, bạch thược mà không hề có tác dụng phụ thậm chí khi sử dụng lâu dài đối với các bệnh mạn tính.
 Lê Lan

Những dấu hiệu thương tổn trong bệnh vẩy nến

Bệnh vẩy nến là do sự rối loạn điều tiết tạo nên một màng ngăn bám chặt trên da. Màng bám này sản sinh tế bào nhanh gấp 10 lần so với bình thường rồi chết. Nhưng thay vì bong dần dần như tế bào chết bình thường thì nó nổi lên thành từng vẩy trắng.

Những dấu hiệu thương tổn trong bệnh vẩy nến

Thương tổn ngoài da của vẩy nến tương đối đơn dạng nhưng có thể biến đổi tùy theo vị trí, tùy theo từng thể bệnh, mức độ bệnh

Đại đa số trường hợp thương tổn bắt đầu xuất hiện ở đầu gối, khuỷu tay, da đầu nhưng đôi khi cả ở thân thể, gan bàn tay, bàn chân và các ngón chân. Tổn thương có thể khu trú, lan tỏa hoặc rải rác nhiều nơi hoặc toàn thân nhưng thường có tính chất đối xứng. Đáng chú ý là vị trí thương tổn vẩy nến nhiều khi ăn khớp với vị trí da đầu.
Tỷ lệ vị trí phát bệnh đầu tiên như sau: da đầu: 50, bụng: 6, mặt: 4 cẳng chân: 4, giữa 2 bả vai: 3, khuỷu tay: 3, đầu gối: 2, không rõ: 5. Như vậy, vẩy nến thường hay xuất hiện đầu tiên trên da đầu.

Ảnh minh họa: Tổn thương có thể biến đổi ở nhiều vị trí

Triệu chứng của bệnh vẩy nến bao gồm:
- Các tế bào da chết dày lên, những nốt vẩy da gây ngứa, các vẩy như vẩy cá trên da ngày càng phát triển. Sâu dưới vẩy có màu hồng còn phía trên vẩy da thì màu trắng.
- Các vẩy này phát triển trên da đầu, đầu gối, khuỷu tay, phần trên của thân là nhiều. Tuy nhiên, khi chúng phát triển ở móng tay và móng chân, thì các vẩy trở nên dày hơn, sần sùi và không màu.
- Những vẩy như vẩy cá, màu đỏ gây tổn thương da ở lòng bàn tay với các mụn nhỏ là dấu hiệu của vẩy nến ở lòng bàn tay, và xuất hiện dấu hiệu tương tự gọi là vẩy nến ở bàn chân. Và nó liên quan đến các khớp, dễ phát triển thành
 bệnh viêm khớp vẩy nến

Vẩy nến là một bệnh mạn tính

Vẩy nến là một bệnh da có vẩy mạn tính do viêm và chưa có phương pháp giúp chữa khỏi hoàn toàn. Bệnh rất thường gặp, tỷ lệ người mắc vẩy nến chiếm 2-3% dân số thế giới. Hiện nay, có rất nhiều phương pháp điều trị nhưng bệnh có thể kháng trị hoặc dễ tái phát sau khi ngưng sử dụng thuốc. Do vậy, việc sử dụng thuốc kéo dài kết hợp các biện pháp chăm sóc da sẽ giúp kiểm soát vẩy nến tốt nhất.
Hoàng Lam


Tác dụng và các nghiên cứu của cây Nhàu


Thông tin khoa học của cây Nhàu

Nhàu có tên khoa học là Morinda citrifolia, là cây nhỡ hay cây to, cao 6 đến 8m. Thân có 4 cạnh rõ, hơi dẹt. Lá mọc đối, hình bầu dục, có lá kèm to. Cụm hoa mọc ở kẽ lá, hoa màu trắng sau vàng, kết thành khối. Quả thịt, gồm nhiều quả hạch dính vào nhau, khi chín màu trắng vàng hoặc hồng nhạt, nhiều hạt.
Bộ phận dùng: Vỏ, rễ, lá, quả phơi hoặc sấy khô



Ảnh minh họa: Cây Nhàu

 Rễ nhàu có tác dụng thanh nhiệt, giải độc

Nhàu chứa các tác nhân chống oxi hóa mạnh, chống gốc tự do, chứa nhiều vitamin A, C, E, B2,6,12, Niacin, Folic acid và khoáng chất: Mg, Zn,…có tác dụng điều hòa miễn dịch.

Nghiên cứu ứng dụng cây Nhàu


Trong một nghiên cứu tại ĐH phụ nữ, Maharashtra, Ấn Độ với nội dung là:


“Đánh giá tác dụng điều biến miễn dịch của Nhàu trên tế bào lympho B và T”.

Và cho kết quả là dịch chiết cồn của quả Nhàu có tác dụng làm tăng đáp ứng miễn dịch thể dịch lên 33% đồng thời cũng chứng minh đặc tính điều biến miễn dịch cả thể dịch và tế bào của Nhàu.

Ngoài ra, Nhàu còn có tác dụng hạ huyết áp thông qua tác dụng giãn mạch nhờ đối kháng với adrenalin, noradrenalin và ức chế nhẹ thần kinh trung ương. Theo Đào Văn Phan và Trân Ngọc Ân, cao nước có tác dụng tốt đối với viêm khớp dạng thấp ở giai đoạn I và II.

Rễ Nhàu có phạm vi sử dụng an toàn khá rộng, ít ảnh hưởng đến số lượng hồng cầu, bạch cầu, và chức năng gan thận.
Tài liệu tham khảo:

1. Cây thuốc và động vật làm thuốc- tập I

Hoàng Lan



Nghiên cứu hiệu quả hỗ trợ điều trị bệnh vẩy nến bằng Kim Miễn Khang


Tháng 6/2014, tại bệnh viện Da liễu Trung ương đã hoàn thành kết quả nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả hỗ trợ điều trị bệnh vẩy nến thể thông thường bằng Kim Miễn Khang” do PGS.TS Trần Lan Anh - Nguyên Trưởng Phòng Đào tạo bệnh viện Da liễu Trung ương - Nguyên Phó Chủ nhiệm Bộ môn Da liễu trường Đại học Y Hà Nội thực hiện.
Vẩy nến là bệnh da liễu mạn tính, tiến triển thành từng đợt xen kẽ với những giai đoạn bệnh ổn định. Biểu hiện lâm sàng của bệnh hết sức đa dạng, bao gồm vẩy nến thể mảng thông thường, vẩy nến thể mủ, vẩy nến thể khớp, vẩy nến thể đỏ da toàn thân... Vẩy nến thể mảng thông thường là thể hay gặp nhất, chiếm hầu hết các trường hợp. Bệnh gây ngứa ngáy, bong vẩy thành từng mảng… làm ảnh hưởng nặng nề tới tâm lý, thẩm mỹ, khiến bệnh nhân tự ti, cô lập xã hội, thu mình trong các hoạt động xã hội...


Kim Miễn Khang tốt cho bệnh nhân vẩy nến 

Ảnh minh họa
Có nhiều thuốc được sử dụng trong điều trị vẩy nến hiện nay như: thuốc ức chế miễn dịch (methotrexat, cyclosporine) thuốc dưỡng ẩm, bong vẩy,… Tuy nhiên, do vẩy nến là bệnh da liễu mạn tính, bởi vậy, việc sử dụng thuốc thường phải kéo dài, thậm chí suốt cuộc đời người bệnh. Điều này khiến bệnh nhân vô cùng khổ sở với các tác dụng phụ mà những thuốc trên gây ra khi điều trị trong thời gian dài. Đồng thời, biện pháp quang hóa liệu pháp cũng được sử dụng để điều trị vẩy nến thể nặng, tuy nhiên sẽ tiềm ẩn nguy cơ ung thư da nếu quá lạm dụng. Trước những khó khăn đó, việc sản xuất ra một sản phẩm vừa đạt hiệu quả điều trị vẩy nến tốt, vừa an toàn khi sử dụng trong thời gian dài là mong mỏi của các bác sĩ và bệnh nhân.
Trong các sản phẩm được chắt lọc từ tinh hoa của y học cổ truyền, thực phẩm chức năng Kim Miễn Khang là sản phẩm tiêu biểu giúp hỗ trợ điều trị vẩy nến được rất nhiều bệnh nhân sử dụng và đạt kết quả tốt. Tuy nhiên, cần có nghiên cứu lâm sàng để đánh giá hiệu quả cũng như tính an toàn của sản phẩm. Xuất phát từ các vấn đề và thực tế trên, PGS.TS Trần Lan Anh cùng đồng nghiệp đã tiến hành đề tài “Đánh giá hiệu quả hỗ trợ điều trị bệnh vẩy nến thể thông thường bằng Kim Miễn Khang”. Đề tài này đã đáp ứng tính cấp thiết trong thực tế hiện nay về điều trị vẩy nến, đó là cần có một biện pháp hiệu quả, an toàn khi điều trị lâu dài và đặc biệt phải được khoa học chứng minh.
Nghiên cứu được tiến hành trên 60 bệnh nhân (từ 5/2011 – 5/2013) trong đó 30 bệnh nhân dùng methotrexate kết hợp với Kim Miễn Khang, 30 bệnh nhân chỉ dùng methotrexate. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở nhóm dùng Kim Miễn Khang có tỉ lệ sạch tổn thương và mức độ cải thiện bệnh tốt rõ rệt: Sau 4 tuần tỉ lệ tốt đạt 16,7%, khá đạt 56,7% cao hơn nhóm đối chứng (tốt 10,0% và khá 43,4%); sau 8 tuần tỉ lệ tốt đạt 56,7% cao hơn nhóm đối chứng (tốt 50,0%). Ngoài ra, với nhóm sử dụng kết hợp Kim Miễn Khang, mức độ thay đổi chỉ số PASI (chỉ số dùng để tính mức độ nặng-nhẹ của bệnh vẩy nến) trung bình giảm rõ rệt từ khi bắt đầu điều trị ở tuần 0 (PASI = 27,32±11,53) cho đến khi kết thúc điều trị ở tuần 12 (PASI = 5,38±3,88). Ở nhóm dùng kết hợp cùng Kim Miễn Khang có tỉ lệ cao hơn là 73,87% so với nhóm đối chứng là 72,07%. So sánh giữa các tuần điều trị thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p
Về đánh giá tính an toàn của Kim Miễn Khang, nghiên cứu đã cho thấy: Các kết quả xét nghiệm hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, urê máu, creatine, glucose trước và sau điều trị không có sự khác biệt giữa 2 nhóm. Ở nhóm sử dụng kết hợp cùng Kim Miễn Khang, kết quả men gan cho thấy chỉ số AST và ALT trước và sau điều trị vẫn trong giới hạn bình thường, tác dụng không mong muốn như mất ngủ chỉ chiếm 3,3% so với nhóm đối chứng là 6,7%, điều này chứng tỏ Kim Miễn Khang an toàn khi sử dụng.
Những kết quả khả quan thu được từ nghiên cứu trên đã làm tăng thêm độ tin cậy, chứng minh tác dụng của thực phẩm chức năng Kim Miễn Khang trong hỗ trợ điều trị bệnh vẩy nến thể thông thường hiện nay. Đây là tín hiệu đáng mừng cho bệnh nhân vẩy nến và là nền tảng tạo tiền đề nhằm phát triển các nghiên cứu về sau trong điều trị căn bệnh này.
Theo Tạp chí Y học thực hành – số ra tháng 7/2014

Nghiên cứu về tác dụng chữa vẩy nến của cây Thổ phục linh



Thổ phục linh còn gọi là củ khúc khắc, củ kim cang. Tên khoa học Smilax glabra Roxb. (Slilax hookeri Kunth). Thuộc họ Hành tỏi Liliaceae. Thổ phục linh (Rhizoma Smilacis) là thân rễ phơi hay sấy khô của nhiều cây thuốc chi Smilax, trong đó có cây Smilax glabra.

A. Mô tả cây

Thổ phục linh hay cây khúc khắc (Smilax glabra) là một loại cây sống lâu năm, dài 4-5m, có nhiều cành nhỏ, gầy, không gai, thường có tủa cuốn dài. lá hình trái xoan thuôn, phía dưới tròn, dài 5-13cm, rộng 3-7cm, chắc cứng, hơi mỏng, có 3 gân nhỏ từ gốc và nhiều gân con. hoa mọc thành tán chừng 29-30 hoa. cuống chung chỉ ng8án chừng 2mm, cuống riêng dài hơn, chừng 10mm hay hơn. quả mọng, hình cầu, đường kính 6-7mm, hơi 3 cạnh, có 3 hạt.

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Mọc hoang khắp nơi ở nước ta. thu hoạch quanh năm, nhưng tốt nhất vào thu đông. đào lấy thân rễ, cắt bỏ rễ nhỏ rửa sạch, đang còn ướt thái mỏng (cho dễ thái), phơi khô; có khi người ta ngâm nước nóng ít phút rồi mới thái cho dễ hơn. có nơi lại đễ nguyên củ phơi khô.

C. Thành phần hoá học

Theo Trung Quốc thổ nông dược chí (1959) thì trong thổ phục linh có saponin, tanin, chất nhựa.



D. Công dụng và liều dùng

Thổ phục linh là một vị thuốc được dùng cả trong đông y và tây y (tây y dùng với tên Salsepareille làm thuốc tẩy máu, làm ra mồ hôi, chữa giang mai…)

Theo tài liệu cổ đông y thì thổ phục linh vị ngọt, nhạt, tính bình, vào 2 kinh can và vị. có tác dụng khử phong thấp, lợi gân cốt, giải độc do thuỷ ngân. chữa đau xương, ác sang ung thũng.

Hiện nay thổ phục linh là một vị thuốc:

1) Được dùng trong nhân dân để tẩy độc cơ thể, bổ dạ dày, khỏe gân cốt, làm ra mồ hôi, chữa đau khớp xương.

Liều dùng hàng ngày 10-20g dưới dạng thuốc có khi dùng với liều cao hơn.

2) Làm nguyên liệu chế nước ngọt giải khát tại Mỹ và những nước chịu ảnh hưởng của văn hoá phong tục Mỹ. người ta dùng các loại thổ phục linh S milax medica, S. aristolochiaefolia Mill nguồn gốc ở Mêhicô, S. ornata Hook. f nguồn gốc ở Honduras sansơ parây (salsepareille), còn có tên nước xá xị (tên loại nước uống này ở miền nam nước ta thường gọi). theo thói quen của nhân dân một số nước châu Mỹ người ta uống những loài thổ phục linh này với mục đích giải khát, tẩy độc cơ thể, giúp sự tiêu hoá. nhu cầu những loại thổ phục linh để làm nước giải khát rất lớn, vì tiêu thụ không những chỉ ở riêng những nước như Mỹ, Mehicô… mà còn lan ra rất nhiều nước khác ở châu Á, châu Mỹ latinh v.v… do nhu cầu tăng lên mà cây này hầu như chưa được trồng, nguồn cây mọc hoang dại không đủ, cho nên người ta thay thế bằng một số nguyên liệu khác và làm thơm bằng một hỗn hợp tinh dầu có mùi đặc biệt nhưng vẫn mang tên sansơ parây hay xá xị. những hãng nước ngọt giải khát ở miền nam nước ta trước đây vẫn phải nhập những loại nguyên liệu cô đặc này từ nước ngoài về pha nước rồi đóng chai. chúng tôi cho rằng chúng ta nên nghiên cứu thay thế loại nước uống bằng những nguyên liệu hoàn toàn do ta sản xuất, những loài thổ phục linh có sẵn ở nước ta và giữ nguyên hương vị tự nhiên của nó hoặc tìm một loại hương thơm mà ta có sẵn nguyên liệu lịa hợp với sở thích của nhân dân ta, không cần và không nên tìm tòi hương vị trước đây vì đó là những hương vị hoàn toàn nhân tạo không phải là hương vị tự nhiên của thổ phục linh. nhân dân ta trước đây vẫn thường uống nước kim ngân trộn với khúc khắc trong mùa hè để trừ rôm sẩy, mụn nhọt. như trên ta đã thấy, khúc khắc là tên khác của thổ phục linh.

Bài thuốc kinh nghiệm có thổ phục linh.

Năm 1961, khoa da liễu Quân y viện 108 có dùng chữa bệnh vẩy nến (psoriasis) bằng đơn thuốc sau đây:

Hạ thổ thảo nam (cây cải trời)(Blumea subcapitata) 80-120g. thổ phục linh 40-80g. cả hai vị sắc với nước (500ml) trong 3 giờ ở nồi hấp 1500C, được 300ml chia 3 hoặc 4 lần uống trong ngày.

Đã dùng điều trị 21 người khỏi hẳn nhưng có phối hợp ghép Philatôp, 3 trường hợp đỡ 70-80%, 1 trường hơp điều trị dở dang. thời gian điều trị trung bình là 79 ngày (ngắn nhất 23 ngày, dài nhất 118 ngày).

Trong khi uống thuốc có phối hợp bôi những thuốc như thuốc mỡ salixylic 5%, crizp6phanic 5%, dầu Cađơ (huile de Cade) 10%, mỡ Saburô (Sabouraud).

Chú thích:

Trong đông y và tây y đều còn dùng một số loại Smilax nữa như Smilax medica, Schecht et. Cham, Smilax ornata Lem, Smilax officinalis H. B. K. v.v… làm thuốc tẩy độc cơ thể, ra mồ hôi, chưa giang mai.

Với liều nhỏ, nó còn kích thích sự tiêu hoá, nhưng đối với liều quá cao nó có thể gây nôn mửa, biếng ăn v.v…

Trong các loại Smilax dùng trong đông tây y, người ta đã nghiên cứu thấy các chất tinh bột, rất ít tinh dầu, nhựa và một số chất saponoxit, như sacsaponin C45H47O17.

Sacsaponin hay sacsaponozit có tinh thể, độ chảy  2380-2400C, A15D=660 dễ tan trong nước, trong rượu nóng, rất khó tan trong ête, khi thuỷ phân cho glucoza và sacsapogenin có cấu trúc steroit, nếu thuỷ phân bằng axit clohydric 5% sẽ cho sacsapogenin, 2 phân tử glucoza và một phân tử ramnoza. sacsapogenin cũng có tinh thể, độ chảy 199-19905C tan trong cồn hay axeton,có thể kết tủa với digitonin.

Sacsapogenin là một nguyên liệu để tổng hợp hocmon và coctizon

Theo thư viện điện tử KHCN Quảng Trị

Hiện nay, Thổ phục linh đã được chiết xuất và bào chế trong viên nén Kim Miễn Khang. Kim Miễn Khang là một giải pháp mới cho bệnh nhân vẩy nến, có nguồn gốc hoàn toàn từ thiên nhiên giúp phòng ngừa tái phát và giảm triệu chứng cho bệnh vẩy nến. Kim Miễn Khang đã được nghiên cứu tại Bệnh viện da liễu Trung ương cho kết quả tốt.

 

Thông tin về sản phẩm Kim Miễn Khang

Kim Miễn Khang

Giá: 180.000 VNĐ
Hỗ trợ điều trị và phòng ngừa các bệnh tự miễn
- Tăng tổng hợp năng lượng tế bào
- Hỗ trợ phục hồi và điều hòa hệ miễn dịch của cơ thể.
- Hỗ trợ điều trị các bệnh tự miễn như: Lupus ban đỏ hệ thống, bệnh vẩy nến, đa xơ cứng...
- Nguồn gốc thảo dược.
  • THÔNG TIN SẢN PHẨM
1. THÀNH PHẦN:  Mỗi viên chứa
       * L-carnitine fumarate 50mg

      *Cao nhàu (Morinda citrifolia) 200mg, Cao sói rừng (Sarcandra glabra) 150mg, Cao thổ phục linh (Smilax glabra) 100mg, Cao hoàng bá (Cortex phellodendri) 100mg, Cao bạch thược (Paeonia albiflora) 100mgCao nhũ hương (Boswella) 20mg
2. CƠ CHẾ TÁC DỤNG:
   Bệnh tự miễn xuất hiện do sự đáp ứng miễn dịch quá mức của cơ thể chống lại những chất và mô mà bình thường có mặt trong cơ thể. Nói cách khác, cơ thể tấn công các tế bào của chính mình. Có nhiều nguyên nhân gây ra tự miễn như: các độc tố trong môi trường, di truyền, virus, một số loại thuốc có thể gây bệnh tự miễn. Ngoài ra, stress, dinh dưỡng kém, thiếu vận động, thiếu ngủ, uống rượu và hút thuốc lá nhiều có thể làm suy yếu hệ miễn dịch cũng góp phần gây ra các bệnh này.
   Tự miễn là nguyên nhân chính gây ra nhiều bệnh tự miễn như: Xơ cứng bì rải rác, tiểu đường typ 1, lupus ban đỏ, viêm mạch (vasculitis), viêm gan tự miễn, viêm khớp dạng thấp, viêm, suy tuyến giáp trạng, tuyến thượng thận, bệnh bạch biến, thiếu máu ác tính, thiếu máu huyết tán do tự miễn, xuất huyết giảm tiểu cầu.
    Phụ nữ có khuynh hướng mắc bệnh tự miễn nhiều hơn nam, khoảng 79% các bệnh nhân tự miễn ở Hoa Kỳ là phụ nữ và thường gặp trong các tuổi sinh nở
    Kim Miễn Khang là sản phẩm phối hợp độc đáo gồm những thảo dược có tác dụng chống viêm mạnh (Nhũ hương, Hoàng bá), điều hòa miễn dịch (Sói rừng, Nhàu), tác dụng chống co thắt (Bạch thược), tác dụng giải độc (Thổ phục linh) và thành phần cung cấp năng lượng tế bào tự nhiên (L-carnitine fumarate). Công thức này đã được nghiên cứu, phát triển giúp phục hồi và làm cân bằng hệ thống miễn dịch của cơ thể. Khác với các thuốc ức chế miễn dịch nguồn gốc hóa dược, các thảo dược trong Kim Miễn Khang được biết đến tác dụng điều hòa miễn dịch rất mạnh, ức chế rất đặc hiệu và chỉ tác động với các tế bào miễn dịch bất thường (đây là những tế bào tấn công vào những mô còn khỏe mạnh của cơ thể).
    L-carnitine fumarate: Là 1 acid amin có trong cơ thể con người, đóng vai trò giúp cơ thể đạt được cân bằng năng lượng, tăng cường khả năng miễn dịch...nên rất có hiệu quả đối với các trường hợp mệt mỏi, giúp bệnh nhân có tâm trạng vui vẻ và có giấc ngủ tốt.
    Sói rừng (Sarcandra glabra (thunb.) Nakai): có vị đắng, cay, tính hơi ấm, có tác dụng hoạt huyết giảm đau, khu phong trừ thấp, tiêu viêm giải độc. Hoa sói rừng được dùng chữa tổn thương do ngã, gãy xương, đau lưng, thấp khớp. Ngoài ra, sói rừng còn có tác dụng chống tự miễn.
    Thổ phục linh (Smilax glabra): có tác dụng tiêu độc, tán uất kết, thanh nhiệt, lợi thấp... thường được dùng để điều trị các bệnh viêm, giải độc kim loại nặng và một số bệnh ung thư.
    Hoàng bá (Phellodendron amurense): thu hút được sự quan tâm của giới dược học, do nó chứa các chất hóa thực vật như Berberine có tác dụng kháng khuẩn, kháng nấm, kháng viêm.
    Nhàu (Morinda citrifolia): là một vị thuốc bổ, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc. Theo GS.TS Đào Văn Phan và GS.TS Trần Ngọc Ân, nhàu có tác dụng tốt đối với viêm khớp dạng thấp (bệnh tự miễn).
    Nhũ Hương (Boswella): Thuốc có tác dụng hoạt huyết giảm đau, đau phong tê thấp, té ngã chấn thương, trường ung. Ngoài ra thuốc có tác dụng tiêu phù sinh cơ trị các chứng nhọt lở lâu ngày khó lành miệng, có tác dụng tiêu độc.
    Bạch thược (Paeony albiflora): Có tác dụng bổ huyết, giảm đau, làm mát tiêu viêm. Các nghiên cứu dược lý cho thấy, bạch thược có tác dụng kháng khuẩn, kháng cholin.
3. CÔNG DỤNG:
- Tăng cường năng lượng cho tế bào, hỗ trợ phục hồi và điều hoà hệ miễn dịch của cơ thể trong các bệnh tự miễn dịch
- Hỗ trợ điều trị và giúp ngăn ngừa triệu chứng của các bệnh tự miễn như: Lupus ban đỏ hệ thống, bệnh bạch biên, bệnh vẩy nến, đa xơ cứng...
4. HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG:
4-5 viên x 02 lần hàng ngày, uống trước bữa ăn 30 phút hoặc sau ăn 01 giờ
Nên dùng liên tục một đợt từ 03 đến 06 tháng.
5. BẢO QUẢN: Để nơi khô mát, tránh ánh sáng
6. QUY CÁCH ĐÓNG GÓI: Hộp 3 vỉ x 10 viên nén
7. HẠN SỬ DỤNG: 24 tháng.
 Đăng ký TCCL: 25780/2014/ATTP XNCB
 Chú ý: Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.
Tiếp thị bởi:
CÔNG TY TNHH DƯỢC PHẨM Á ÂU
Địa chỉ: 171 Chùa Láng- Đống Đa - Hà Nội
Điện thoại: 04. 3846 1530 – 04. 3736 7519  Fax: 04 3775 6433
Website: duocphamaau.com

Sản xuất bởi: Công ty TNHH Tư vấn Y dược Quốc Tế (IMC) - Địa chỉ: B18+19 khu B Hoàng Cầu- Đống Đa- Hà Nội.

Website: www.imc.net.vn
Tổng đài tư vấn khách hàng: 1900. 58.58.15
Sản xuất theo chuyển giao công nghệ của Fuma Natural
12881 Knott Ave., Suite 113
Garden Grove, California 92841, USA

More

Chuyên mục chính